


``... Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương:
ở vào nơi trung tâm trời đất; được thế rồng cuộn
hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện
hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng;
đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ
ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi.
Xem khắp nước Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa.
Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất
nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương
muôn đời ...''
Đôi dòng tiểu sử
- Lý Công Uẩn là người châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang.
Ông sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất (tức ngày 8 tháng 3
năm 974) và mất ngày 3 tháng 3 năm Mậu Thìn (tức ngày
31 tháng 3 năm 1028), thọ 55 tuổi.
- Gốc gác còn nhiều nghi vấn; ta chỉ biết mẹ ông
họ Phạm và từ năm ba tuổi ông đã làm con nuôi của sư
Lý Khánh Văn.
- Dưới thời Tiền Lê, ông làm đến Tả thân
vệ điện tiền chỉ huy sứ. Năm 1009, Lê Ngọa Triều
mất, ông được quần thần tôn lên làm vua, đổi niên
hiệu là Thuận Thiên và dời đô từ Hoa Lư ra Đại La,
nhân đó để lại áng văn
Thiên Đô Chiếu.
- Ông là người thông minh, nhân ái, có chí lớn, và
rất hâm mộ Phật giáo.
Tác phẩm chọn lọc
Tài liệu tham khảo
- Thơ Văn Lý Trần, tập I, NXB Khoa Học Xã Hội, 1977.
- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, NXB Khoa Học Xã Hội, 1993,
theo mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697).
- Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm.
- Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim.